May 13, 2008
Vietnam United States - Hoa Kỳ  
Profile    
 
 

 

Kinh Doanh Tại Hoa Kỳ

Đi?u Ki?n Xu?t Kh?u M?t S?n Ph?m Sang Hoa K?

Thủ Tục Hải Quan


A . Phí thủ tục hải quan (CUSTOMS USER FEES)

Luật hải quan và thương mại 1990 (Customs - and Trade Act of 1990) cho phép hải quan Mỹ được thu phí làm thủ tục hải quan cho các chuyến hàng xuất nhập, cho các phương tiện vận tải. (tàu thuyền, xe cộ, xe lửa, máy bay,...) hành khách, chuyển thư bưu điện.v.v.. Việc thu phí này hợp với yêu cầu của GATT, không mang tính chất thuế, không có tính chất của một hàng rào bảo hộ mậu dịch gián tiếp.

Loại phí này mang tên : Phí thủ tục hàng hóa (Merchandise Processing Fee) - MPF, thay thế cho các loại quy định thu phí hải quan trước năm 1990. MPF quy đinh cho từng chuyến vào hoặc ra, chính thức hay không chính thức mang tính chất thương mại. Phí tính theo giá trị giá lô hàng Advalorem của mỗi chuyến vào chính thức. Các chuyến vào không chính thức có 3 mức phí.

- Mức phí c̣n tùy thuộc vào cách làm thủ tục giấy tờ bằng tay hay bằng máy điện tử.

- Các chuyến thư hàng không có quy định riêng. Cụ thể mức phí tính như sau :

+ Cho các chuyến hàng chính thức : Mức phí bằng 0,17% trị giá lô hàng (Advalorem), nhưng tối đa không quá 400 USD và tối thiểu không dưới 21 USD. Nếu làm thủ tục bằng tay th́ cộng thêm 3 USD.

+ Mức phí 2 USD cho chuyến vào không chính thức chưa đầy đủ điều kiện hải quan, được làm thủ tục bằng máy vi tính.

+ Mức phí 5 USD cho twường hợp trên, nhưng làm thủ tục bằng tay.

+ Mức phí 8 USD cho chuyến vào không chính thức nhưng đă chuẩn bị đủ thủ tục để qua hải quan.

Mức phí trên với Canada, Mêhicô được giảm tới 40%

B . Các luật hải quan khác của Mỹ

Ngoài ra, các quy đinh sau đây về hải quan Mỹ cần lưu ư:

1. Mác mă phải ghi rơ nước xuất xứ:

a. Quy định : Mọi hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ ngoại quốc, phải ghi rơ ràng, không được tẩy xóa ở chỗ dễ nh́n thấy trên bao b́ xuất nhập khẩu. Tên người mua cuối cùng ở Mỹ, tên bằng tiếng Anh nước xuất xứ hàng hóa đó. Hàng tới tay người mua cuối cùng th́ trên các bao b́, vật dùng chứa đựng bao b́ tiêu dùng của hàng hóa cũng phải ghi rơ nước xuất xứ của hàng hóa bên trong.

b. Ngoại lệ: Mỹ cũng cho phép một số trường hợp mà xét thấy không có ǵ nghi vấn về xuất xứ, hoặc xuất xứ quá rơ ràng th́ không phải bắt buộc tuân theo quy định trên. Hoặc hàng mà người nhập khẩu chế biến, thay đổi rồi xuất đi ngay và người mua cuối cùng của sản phẩm ấy không phải là người mua cuối cùng của số hàng nhập ban đầu.

- Sản phẩm nghề cá của Mỹ, sản phẩm thuộc quyền sở hữu của Mỹ, sản phẩm chuyển tải, xuất ngay từ Mỹ.

- Sản phẩm được miễn thuế trị giá 1 USD hoặc thấp hơn, hoặc thực sự là quà biếu trị giá dưới 10 USD hoặc sản phẩm sản xuất được trên 20 năm rồi mới xuất khẩu.

c. Một số trường hợp đặc biệt lưu ư:

- Không có ngoại lệ về việc ghi mác mă đối với hàng đường ống, xy-lanh khí nén, gioăng, khung phụ tùng của chúng kèm theo.

- Đồ chứa bao b́ mặt hàng nấm phải ghi rơ bằng tiếng Anh nơi trồng nấm ấy.

- Với hàng trang sức làm theo kiểu của Mỹ, hàng nghệ thuật theo kiểu của Mỹ phải ghi rơ nước xuất xứ.

d. Phạt vi phạm:.

- Hàng nhập vào Mỹ không tuân thủ quy định trên sẽ bị phạt mức 10% giá tri lô hàng (Advalorem) và phải thực hiện thêm một số yêu cầu nữa. Tuy nhiên, không phải có nghĩa là người nhập khẩu được miễn thi hành nghĩa vụ đă quy định.

- Hàng nhập không đáp ứng đúng yêu cầu về ghi mác mă sẽ bị giữ lại ở khu vực hải quan Mỹ cho tới khi người nhập khẩu thu xếp tái xuất trở lại, phá hủy đi hoặc tới khi hàng được xem là bỏ để chỉnh phủ định đoạt toàn bộ hoặc từng phần.

- Phần 304 (h) luật thuế của Mỹ quy đinh ai cố t́nh vi phạm, cố t́nh che dấu sẽ bi phạt tiền 5.000 USD, hoặc bỏ tù dưới một năm.

- Trường hợp có sự phối hợp với nước ngoài để thay đổi tẩy xóa mác mă về xuất xứ hàng hóa th́ bị phạt 100.000 USD với lần đầu và các lần vi phạm sau đó là 250.000 USD.

C. Phí và hạn ngạch ngành nông sản.

1. Ngay từ 1933, Mỹ đă có đạo luật "Điều chỉnh nông nghiệp" (Aglicultural Adjustmen Act of 1933) và sau đó điều chỉnh nhiều lần, cho phép Tổng thống được áp dụng phí và hạn ngạch với hàng nông sản nhập khẩu gây tổn hại tới chương tŕnh nông sản trong nước của Bộ Nông nghiệp Mỹ. Thí dụ: Làm thị trường trong nước không ổn định, giá cả tăng vọt v... v... Mục tiêu họ đề ra là ổn định và hỗ trợ giá nông sản trong nước, đảm bảo thu nhập cho nông dân, đảm bảo nguồn lương thực trong nước và nguồn sợi các loại, cân đối và đầy đủ cho nhu câu trong nước. Quốc hội Mỹ c̣n quy định chế dộ trợ giá tối thiểu cho một số nông sản chủ yếu, kể cả nông sản dễ hư hao.

Khi xét thấy việc nhập khẩu nông sản gây tác hại tới nông nghiệp trong nước, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp báo cáo Tổng thống. Tổng thống cho điều tra lại, và thấy rằng báo cáo đó là xác đáng, th́ Tổng thống sẽ quyết định áp đụng biện pháp thu phí nhập khẩu hoặc hạn ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên, mức phí không được quá 50% giá trị sản phẩm. Quota cũng không được vượt quá 50% số lượng đă nhập trong giai đoạn bị ảnh hưởng. Kể từ 1935 tới nay, Mỹ đă áp dụng cách khống chế này với 12 mặt hàng và nhóm hàng :

- Lúa ḿ, bột ḿ, kiều mạch, đại mạch, bông, bông sơ, sản phẩm bông, sản phẩm sữa, lạc, dầu lạc, hạt dầu màng tang, dầu lanh, sợi lanh, đường, sản phẩm đường v.v... Tới nay Mỹ đă giảm dần, chỉ c̣n áp dụng cho bông, sản phẩm sữa, lạc và sản phẩm lạc, đường tinh chế, sản phẩm có đường. Phí quota loại này, Mỹ công bố trong phần XXII của danh bạ thuế quan HTS của Mỹ.

2 . Nhập khẩu thịt :

Năm 1964, Mỹ đưa ra đạo luật điều tiết việc nhập khẩu thịt, sau đó nhiều lần sửa lại và ngày 31/12/1979 sau khi thông qua quốc hội Tổng thống Mỹ Carter đă kư ban hành (Meat Import Act 1979).

Theo đạo luật này, Mỹ sẽ áp dụng quota khống chế việc nhập thịt ḅ, cừu, dê, bê khi lượng thịt nhập khẩu đă vượt qua lượng quy định cơ bản cho nhập hàng năm ở mức 10 hoặc trên 10%. Từ 1979 đến 1989, lượng quy định cơ bản là 1.204.600.000 pounds.

Khi lượng thịt nhập vào đă tới mức 110% của mức quy định cơ bản, Mỹ sẽ áp đặt ngay quota. Tuy vậy, luật cũng quy định rằng mức quota nhập khẩu bao giờ cũng được định mức dưới mức 1.193 tỷ pounds mỗi năm. Khi áp dụng quota để hạn chế nhập thịt th́ Mỹ sẽ phân cho các nước bạn hàng cung cấp thịt cho ḿnh, căn cứ theo mức cung cấp truyền thống giữa hai nước.

Căn cứ vào cung cầu, sản xuất trong nước và để bảo vệ thị trường nội địa, Tổng thống Mỹ quyết định việc tăng, giảm, huỷ bỏ, tạm ngưng quota, nhưng có tham khảo thông báo trước, tạo đủ thời gian chuẩn bị cho khách hàng, có xét đến tính đặc thù của thời vụ, và đặc điểm đàn gia súc.

Về nhập khẩu thịt, Mỹ c̣n quy định cụ thể về kiểm tra tiêu chuẩn chất lượng thịt được nhập vào Mỹ. Đồng thời c̣n có quy định "có đi có lại" về tiêu chuẩn thịt cho nhập giữa Mỹ và nước bạn hàng. Nghĩa là nước kia quy định tiêu chuẩn chất lượng thịt cho Mỹ xuất sang họ thế nào th́ Mỹ cũng sẽ áp dụng những quy định tương tự như vậy với nước ấy.

3. Hạn ngạch nhập khẩu đường :

Mỹ phải nhập từ 33 tới 55% nhu cầu về đường của nước này. Mỹ là một trong những nước nhập đường lớn nhất thế giới. Từ năm 1967, Mỹ đă áp dụng thuế hoặc quota để khống chế việc nhập khẩu đường, si rô và rỉ đường. Trước đây, Mỹ áp dụng hạn ngạch bằng cách quy định số lượng cho nhập. Quy định này bị các nước trong GATT phản đối. Từ 1/10/1990, Mỹ áp dụng quy chế mới bằng cách dùng công cụ thuế. Theo quy chế này, một lượng nhất định cho phép nhập đường vào Mỹ chịu mức thuế thấp. Lượng hạn ngạch này xác định trên cơ sở sản xuất trong nước hiện tại và nhu cầu tiêu thụ trong nước. Số lượng đường cho nhập thuế thấp này được phân cho các nước bạn hàng tuỳ theo khối lượng truyền thống họ vẫn cung cấp cho Mỹ. Khối lượng đường vào Mỹ vượt quá mức quy định trên, Mỹ sẽ đánh thuế cao ở mức 16 xu Mỹ/pound (cân Anh), nước nào được hưởng JSP của Mỹ th́ cũng chỉ được hưởng chế độ miễn thuế ở mức hạn ngạch Mỹ cho phép nhập vào Mỹ với mức thuế thấp.

4. Cấm nhập khẩu một số loại nông sản:

Điều khoản 8e của luật điều chỉnh nông nghiệp Mỹ quy định cấm nhập khẩu những mặt hàng nông sản sau đây nếu chúng không đáp ứng được yêu cầu về: cấp loại, kích cỡ chất lượng và độ già :

"Cà chua, nho khô, olive, quả chanh đắng (Chanh nước có vị đắng), bưởi, hạt tiêu c̣n xanh, cà chua Ái Nhĩ Lan, dưa chuột, cam, hành, quả óc chó, chà là, nho (dùng cho bữa ăn), trái cà, mận táo, trái kiwi, trái hố trăm, quả đào tiên". Tiêu chuẩn này xây dựng trên cơ sở tiêu chuẩn sản phẩm mà Mỹ sản xuất được và có nhu cầu trong nước.

5. Nhập khẩu sắt thép :

Chương VII của Bộ luật thương mại và thuế quan 1984 của Mỹ quy đinh Quy chế ổn định việc nhập khẩu sắt thép và chương tŕnh tự do hóa mậu dịch sắt thép (VRA) giá trị 5 năm sau đó gia hạn thêm. Luật này cho phép Tổng thống áp dụng quyền giới han, hạn chế về mặt số lượng và các điều kiện khác trong các hiệp định song phương kư với nước xuất khẩu, cung cấp thép cho Mỹ. Với ngôn ngữ rất chung và rộng về ngữ nghĩa, nên luật này cho quyền tổng thống khá rộng để áp dụng các biện pháp cấp thiết bao gồm cả việc yêu cầu xuất tŕnh giấy phép xuất khẩu có giá trị, hoặc các giấy tờ cần thiết, xem đây là điều kiện để vào thị trường Mỹ. Nghĩa là Mỹ tận dụng hàng rào phi quan thuế để tăng cường sức mạnh khống chế việc nhập sắt thép. Tuy đề ra chương tŕnh tự do hoá mậu dịch sắt thép (VRA), nhưng Mỹ vẫn áp dụng nhiều h́nh thức quản lư chặt việc nhập khẩu sắt thép vào Mỹ.

6. Hạn chế nhập khẩu v́ an ninh quốc gia:

Mục 232 của "luật mở rộng thương mại" 1962 cho quyền Tổng thống hạn chế việc nhập khẩu xét thấy có nguy cơ phương hại tới an ninh quốc gia. Việc hạn chế sẽ thực hiện bằng cách áp dụng hạn ngạch, áp dụng phí nhập khẩu. Tổng thống Mỹ dùng quyền này với các mặt hàng dầu lửa và sản phẩm dầu lửa.

Khi nhận được đơn kiến nghị của các ngành có liên quan rằng quyền nhập khẩu một mặt hàng nào đó về số lượng, chủng loại... gây phương hại tới an ninh quốc gia, Bộ trưởng thương mại sẽ cho điều tra, có thông báo và tham khảo, kết hợp với Bộ trưởng quốc pḥng. Trong ṿng 270 ngày, Bộ trưởng thương mại có tờ tŕnh báo cáo và khuyến nghị giải pháp với Tổng thống. Sau đó 90 ngày, Tổng thống cho ư kiến quyết định và 15 ngày tiếp theo sẽ cho công bố việc áp dụng, biện pháp khống chế cụ thể (nếu Tổng thống chấp nhận kết quả điều tra và ư kiến của Bộ trưởng thương mại).

7. Hạn chế nhập khẩu v́ lư do "cán cân thanh toán"

Mục 122, Luật thương mại (Trade Act.1974) cho quyền Tổng thống được tăng, hoặc giảm, hoặc mở rộng những quy định hạn chế nhập khẩu để giải quyết khó khăn về thanh toán quốc tế của đất nước.

Việc hạn chế nhập kháu v́ lư do này rất nghiêm ngặt, cho áp dụng phụ thu nhập khẩu (không quá 15% tri giá hàng hoá), hoặc áp dụng hạn ngạch hoặc kết hợp cả hai biện pháp này trong thời gian 150 ngày (trừ phi quốc hội gia hạn thêm). Trong trường hợp thâm hụt cán cân thanh toán nghiêm trọng, việc làm này c̣n nhằm bảo vệ đồng dollar khỏi bị phá giá lớn.

Luật này ra đời, kết hợp với các luật lệ nói ở trên là nhằm bảo vệ lợi ích của nền sản xuất, kinh tế Mỹ. Là một nước nhập dầu lửa lớn, Mỹ luôn bị tác động bởi sự thất thường của giá thị trường dầu lửa quốc tế.

Do vậy luật này nhằm tạo ra môi trường pháp lư để Mỹ bảo vệ ngành sản xuất trong nước được sử dụng nhiều dầu lửa, tránh ĺnh trạng thiếu hụt về cán cân thanh toán. Mặc dù vẫn công bố tự do thương mại không phân biệt đối xử nhưng thực tế với từng loại nước và khách hàng Mỹ vẫn có chế độ riêng. Hàng rào phi quan thuế của Mỹ thể hiện ở các quy chế sau đây:

8. Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm :

Mỹ đă khai thác vận dụng những quy chế của tổ chức GATT để đưa ra quy định về tiêu chuẩn chất lượng của ḿnh.

a. Hiệp định đa biên về những trở ngại kỹ thuật đối với trong khuôn khổ GATT :

Đây là hàng rào phi thuế quan được quy định cụ thể ở Hiệp định Tokyo - GATT 1973 - 1979 và có hiệu lực từ 1/1/1980. Hiệp định này được gọi tắt là luật về tiêu chuẩn (Standard Code), quy định rằng :

- Nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất là các nước kư kết Hiệp định không được cố t́nh hay hữu ư định ra tiêu chuẩn quy định, kỹ thuật, chế độ cấp giấy chứng nhận mà chúng gây ra những trở ngại lớn không cần thiết cho ngoại thương. Luật này thừa nhận chủ quyền của các nước xây dựng tiêu chuẩn, chế độ cấp giấy chứng nhận, để bảo vệ đời sống, sức khoẻ, môi trường cho nước ḿnh, nhưng những quy chế đó không được gây trở ngại cho thương mại quốc tế và càng hạn chế càng tốt.

- Chống phân biệt đối xử giữa các nước thành viên, về tiêu chuẩn cho sản phẩm nước ḿnh và sản phẩm nhập khẩu, và điều kiện thủ tục xin giấy chứng nhận. Tiêu chuẩn kỹ thuật, điều kiện và mọi thay đổi có liên quan, phải giải thích rơ, công bố thật sớm và thật rơ ràng cụ thể.

b. Quy định của Mỹ :

Chương IV của Luật về các Hiệp định thương mại 1979 của Mỹ (Trade Agrement Act 1979) quy định việc áp dụng các tiêu chuẩn và thủ tục xin cấp giấy chứng nhận cho hàng nhập vào Mỹ được căn cứ theo hiệp định nói trên của GATT.

Tuy vậy những quy định đó được Mỹ áp dụng làm phương tiện để phân biệt đối xử với các loại hàng nhập, thí dụ : hàng nhập có thể bị kiểm tra, thử nghiệm xem có phù hợp với tiêu chuẩn trong nước hay không và tiến hành ở những điều kiện khó khăn hơn so với điều kiện áp dụng cho hàng trong nước. Chế độ cấp giấy chứng nhận hàng phù hợp tiêu chuẩn cũng được dùng để hạn chế hàng nhập hoặc phân biện đối xử. Thực chất đây là hàng rào phi quan thuế để Mỹ bảo hộ hợp lệ cho sản xuất trong nước.



Home || About Us || Contact Us || Feedback || FAQs || Importers || Agreement
Copyright © 2004 American Technologies, Inc. (ATI)