|
Luật hải quan và thương mại 1990
(Customs - and Trade Act of 1990) cho phép hải quan Mỹ
được thu phí làm thủ tục hải
quan cho các chuyến hàng xuất nhập, cho các phương
tiện vận tải. (tàu thuyền, xe cộ, xe
lửa, máy bay,...) hành khách, chuyển thư
bưu điện.v.v.. Việc thu phí này hợp với
yêu cầu của GATT, không mang tính chất thuế,
không có tính chất của một hàng rào bảo
hộ mậu dịch gián tiếp.
Loại phí này mang tên : Phí thủ tục hàng
hóa (Merchandise Processing Fee) - MPF, thay thế cho các loại
quy định thu phí hải quan trước
năm 1990. MPF quy đinh cho từng chuyến vào hoặc
ra, chính thức hay không chính thức mang tính chất
thương mại. Phí tính theo giá trị
giá lô hàng Advalorem của mỗi chuyến vào
chính thức. Các chuyến vào không chính thức
có 3 mức phí.
- Mức phí c̣n tùy thuộc vào cách làm thủ
tục giấy tờ bằng tay hay bằng máy
điện tử.
- Các chuyến thư hàng không có quy định
riêng. Cụ thể mức phí tính như sau :
+ Cho các chuyến hàng chính thức : Mức
phí bằng 0,17% trị giá lô hàng (Advalorem), nhưng
tối đa không quá 400 USD và tối thiểu
không dưới 21 USD. Nếu làm thủ tục
bằng tay th́ cộng thêm 3 USD.
+ Mức phí 2 USD cho chuyến vào không chính thức
chưa đầy đủ điều kiện
hải quan, được làm thủ tục
bằng máy vi tính.
+ Mức phí 5 USD cho twường hợp trên,
nhưng làm thủ tục bằng tay.
+ Mức phí 8 USD cho chuyến vào không chính thức
nhưng đă chuẩn bị đủ thủ
tục để qua hải quan.
Mức phí trên với Canada, Mêhicô
được giảm tới 40%
Ngoài ra, các quy đinh sau đây về hải
quan Mỹ cần lưu ư:
1. Mác mă phải ghi rơ nước xuất
xứ:
a. Quy định : Mọi hàng hóa nhập
khẩu có xuất xứ ngoại quốc, phải
ghi rơ ràng, không được tẩy xóa
ở chỗ dễ nh́n thấy trên bao b́ xuất
nhập khẩu. Tên người mua cuối cùng
ở Mỹ, tên bằng tiếng Anh nước xuất
xứ hàng hóa đó. Hàng tới tay người
mua cuối cùng th́ trên các bao b́, vật dùng chứa
đựng bao b́ tiêu dùng của hàng hóa cũng
phải ghi rơ nước xuất xứ của hàng
hóa bên trong.
b. Ngoại lệ: Mỹ cũng cho phép một
số trường hợp mà xét thấy
không có ǵ nghi vấn về xuất xứ, hoặc
xuất xứ quá rơ ràng th́ không phải bắt
buộc tuân theo quy định trên. Hoặc hàng
mà người nhập khẩu chế biến,
thay đổi rồi xuất đi ngay và người
mua cuối cùng của sản phẩm ấy không
phải là người mua cuối cùng của số
hàng nhập ban đầu.
- Sản phẩm nghề cá của Mỹ, sản
phẩm thuộc quyền sở hữu của Mỹ,
sản phẩm chuyển tải, xuất ngay từ
Mỹ.
- Sản phẩm được miễn thuế
trị giá 1 USD hoặc thấp hơn, hoặc thực
sự là quà biếu trị giá dưới 10
USD hoặc sản phẩm sản xuất
được trên 20 năm rồi mới xuất
khẩu.
c. Một số trường hợp đặc
biệt lưu ư:
- Không có ngoại lệ về việc ghi mác
mă đối với hàng đường
ống, xy-lanh khí nén, gioăng, khung phụ tùng của
chúng kèm theo.
- Đồ chứa bao b́ mặt hàng nấm phải
ghi rơ bằng tiếng Anh nơi trồng nấm
ấy.
- Với hàng trang sức làm theo kiểu của
Mỹ, hàng nghệ thuật theo kiểu của Mỹ
phải ghi rơ nước xuất xứ.
d. Phạt vi phạm:.
- Hàng nhập vào Mỹ không tuân thủ quy
định trên sẽ bị phạt mức 10%
giá tri lô hàng (Advalorem) và phải thực hiện
thêm một số yêu cầu nữa. Tuy nhiên,
không phải có nghĩa là người nhập
khẩu được miễn thi hành nghĩa vụ
đă quy định.
- Hàng nhập không đáp ứng đúng yêu cầu
về ghi mác mă sẽ bị giữ lại ở
khu vực hải quan Mỹ cho tới khi người
nhập khẩu thu xếp tái xuất trở lại,
phá hủy đi hoặc tới khi hàng
được xem là bỏ để chỉnh
phủ định đoạt toàn bộ hoặc
từng phần.
- Phần 304 (h) luật thuế của Mỹ quy
đinh ai cố t́nh vi phạm, cố t́nh che dấu
sẽ bi phạt tiền 5.000 USD, hoặc bỏ tù
dưới một năm.
- Trường hợp có sự phối hợp
với nước ngoài để thay đổi
tẩy xóa mác mă về xuất xứ hàng hóa th́
bị phạt 100.000 USD với lần đầu và
các lần vi phạm sau đó là 250.000 USD.
1. Ngay từ 1933, Mỹ đă có đạo luật
"Điều chỉnh nông nghiệp" (Aglicultural
Adjustmen Act of 1933) và sau đó điều chỉnh
nhiều lần, cho phép Tổng thống được
áp dụng phí và hạn ngạch với hàng nông
sản nhập khẩu gây tổn hại tới
chương tŕnh nông sản trong nước
của Bộ Nông nghiệp Mỹ. Thí dụ: Làm
thị trường trong nước không
ổn định, giá cả tăng vọt v...
v... Mục tiêu họ đề ra là ổn định
và hỗ trợ giá nông sản trong nước,
đảm bảo thu nhập cho nông dân, đảm
bảo nguồn lương thực trong nước
và nguồn sợi các loại, cân đối và
đầy đủ cho nhu câu trong nước.
Quốc hội Mỹ c̣n quy định chế dộ
trợ giá tối thiểu cho một số nông sản
chủ yếu, kể cả nông sản dễ hư
hao.
Khi xét thấy việc nhập khẩu nông sản
gây tác hại tới nông nghiệp trong nước,
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp báo
cáo Tổng thống. Tổng thống cho điều
tra lại, và thấy rằng báo cáo đó là xác
đáng, th́ Tổng thống sẽ quyết định
áp đụng biện pháp thu phí nhập khẩu
hoặc hạn ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên,
mức phí không được quá 50% giá trị
sản phẩm. Quota cũng không được
vượt quá 50% số lượng đă nhập
trong giai đoạn bị ảnh hưởng. Kể
từ 1935 tới nay, Mỹ đă áp dụng cách
khống chế này với 12 mặt hàng và nhóm
hàng :
- Lúa ḿ, bột ḿ, kiều mạch, đại
mạch, bông, bông sơ, sản phẩm bông, sản
phẩm sữa, lạc, dầu lạc, hạt dầu
màng tang, dầu lanh, sợi lanh, đường,
sản phẩm đường v.v... Tới
nay Mỹ đă giảm dần, chỉ c̣n áp dụng
cho bông, sản phẩm sữa, lạc và sản
phẩm lạc, đường tinh chế, sản
phẩm có đường. Phí quota loại
này, Mỹ công bố trong phần XXII của danh bạ
thuế quan HTS của Mỹ.
2 . Nhập khẩu thịt :
Năm 1964, Mỹ đưa ra đạo luật
điều tiết việc nhập khẩu thịt,
sau đó nhiều lần sửa lại và ngày
31/12/1979 sau khi thông qua quốc hội Tổng thống
Mỹ Carter đă kư ban hành (Meat Import Act 1979).
Theo đạo luật này, Mỹ sẽ áp dụng
quota khống chế việc nhập thịt ḅ, cừu,
dê, bê khi lượng thịt nhập khẩu
đă vượt qua lượng quy định
cơ bản cho nhập hàng năm ở mức 10
hoặc trên 10%. Từ 1979 đến 1989,
lượng quy định cơ bản là
1.204.600.000 pounds.
Khi lượng thịt nhập vào đă tới
mức 110% của mức quy định cơ bản,
Mỹ sẽ áp đặt ngay quota. Tuy vậy, luật
cũng quy định rằng mức quota nhập
khẩu bao giờ cũng được
định mức dưới mức 1.193 tỷ
pounds mỗi năm. Khi áp dụng quota để hạn
chế nhập thịt th́ Mỹ sẽ phân cho
các nước bạn hàng cung cấp thịt cho
ḿnh, căn cứ theo mức cung cấp truyền
thống giữa hai nước.
Căn cứ vào cung cầu, sản xuất trong
nước và để bảo vệ thị
trường nội địa, Tổng thống
Mỹ quyết định việc tăng, giảm,
huỷ bỏ, tạm ngưng quota, nhưng có tham
khảo thông báo trước, tạo đủ thời
gian chuẩn bị cho khách hàng, có xét đến
tính đặc thù của thời vụ, và đặc
điểm đàn gia súc.
Về nhập khẩu thịt, Mỹ c̣n quy
định cụ thể về kiểm tra tiêu chuẩn
chất lượng thịt được
nhập vào Mỹ. Đồng thời c̣n có quy định
"có đi có lại" về tiêu chuẩn thịt
cho nhập giữa Mỹ và nước bạn
hàng. Nghĩa là nước kia quy định
tiêu chuẩn chất lượng thịt cho Mỹ
xuất sang họ thế nào th́ Mỹ cũng sẽ
áp dụng những quy định tương
tự như vậy với nước
ấy.
3. Hạn ngạch nhập khẩu
đường :
Mỹ phải nhập từ 33 tới 55% nhu cầu
về đường của nước
này. Mỹ là một trong những nước
nhập đường lớn nhất thế
giới. Từ năm 1967, Mỹ đă áp dụng
thuế hoặc quota để khống chế việc
nhập khẩu đường, si rô và rỉ
đường. Trước đây, Mỹ
áp dụng hạn ngạch bằng cách quy định
số lượng cho nhập. Quy định
này bị các nước trong GATT phản
đối. Từ 1/10/1990, Mỹ áp dụng quy chế
mới bằng cách dùng công cụ thuế. Theo quy
chế này, một lượng nhất định
cho phép nhập đường vào Mỹ chịu
mức thuế thấp. Lượng hạn ngạch
này xác định trên cơ sở sản xuất
trong nước hiện tại và nhu cầu tiêu
thụ trong nước. Số lượng
đường cho nhập thuế thấp này
được phân cho các nước bạn hàng
tuỳ theo khối lượng truyền thống
họ vẫn cung cấp cho Mỹ. Khối lượng
đường vào Mỹ vượt quá mức
quy định trên, Mỹ sẽ đánh thuế
cao ở mức 16 xu Mỹ/pound (cân Anh), nước
nào được hưởng JSP của Mỹ th́
cũng chỉ được hưởng chế
độ miễn thuế ở mức hạn ngạch
Mỹ cho phép nhập vào Mỹ với mức thuế
thấp.
4. Cấm nhập khẩu một số loại
nông sản:
Điều khoản 8e của luật điều
chỉnh nông nghiệp Mỹ quy định cấm
nhập khẩu những mặt hàng nông sản
sau đây nếu chúng không đáp ứng
được yêu cầu về: cấp loại,
kích cỡ chất lượng và độ
già :
"Cà chua, nho khô, olive, quả chanh đắng
(Chanh nước có vị đắng), bưởi,
hạt tiêu c̣n xanh, cà chua Ái Nhĩ Lan, dưa
chuột, cam, hành, quả óc chó, chà là, nho (dùng
cho bữa ăn), trái cà, mận táo, trái kiwi, trái
hố trăm, quả đào tiên". Tiêu chuẩn
này xây dựng trên cơ sở tiêu chuẩn sản
phẩm mà Mỹ sản xuất được
và có nhu cầu trong nước.
5. Nhập khẩu sắt thép :
Chương VII của Bộ luật
thương mại và thuế quan 1984 của
Mỹ quy đinh Quy chế ổn định việc
nhập khẩu sắt thép và chương tŕnh
tự do hóa mậu dịch sắt thép (VRA) giá trị
5 năm sau đó gia hạn thêm. Luật này cho
phép Tổng thống áp dụng quyền giới
han, hạn chế về mặt số lượng
và các điều kiện khác trong các hiệp
định song phương kư với nước
xuất khẩu, cung cấp thép cho Mỹ. Với
ngôn ngữ rất chung và rộng về ngữ
nghĩa, nên luật này cho quyền tổng thống
khá rộng để áp dụng các biện pháp cấp
thiết bao gồm cả việc yêu cầu xuất
tŕnh giấy phép xuất khẩu có giá trị, hoặc
các giấy tờ cần thiết, xem đây là
điều kiện để vào thị trường
Mỹ. Nghĩa là Mỹ tận dụng hàng rào
phi quan thuế để tăng cường sức
mạnh khống chế việc nhập sắt thép.
Tuy đề ra chương tŕnh tự do hoá
mậu dịch sắt thép (VRA), nhưng Mỹ
vẫn áp dụng nhiều h́nh thức quản lư
chặt việc nhập khẩu sắt thép vào Mỹ.
6. Hạn chế nhập khẩu v́ an ninh quốc
gia:
Mục 232 của "luật mở rộng thương
mại" 1962 cho quyền Tổng thống hạn
chế việc nhập khẩu xét thấy có nguy
cơ phương hại tới an ninh quốc
gia. Việc hạn chế sẽ thực hiện bằng
cách áp dụng hạn ngạch, áp dụng phí nhập
khẩu. Tổng thống Mỹ dùng quyền này với
các mặt hàng dầu lửa và sản phẩm dầu
lửa.
Khi nhận được đơn kiến
nghị của các ngành có liên quan rằng quyền
nhập khẩu một mặt hàng nào đó về
số lượng, chủng loại... gây phương
hại tới an ninh quốc gia, Bộ trưởng
thương mại sẽ cho điều tra, có
thông báo và tham khảo, kết hợp với Bộ
trưởng quốc pḥng. Trong ṿng 270 ngày, Bộ
trưởng thương mại có tờ
tŕnh báo cáo và khuyến nghị giải pháp với
Tổng thống. Sau đó 90 ngày, Tổng thống
cho ư kiến quyết định và 15 ngày tiếp
theo sẽ cho công bố việc áp dụng, biện
pháp khống chế cụ thể (nếu Tổng
thống chấp nhận kết quả điều
tra và ư kiến của Bộ trưởng
thương mại).
7. Hạn chế nhập khẩu v́ lư do "cán
cân thanh toán"
Mục 122, Luật thương mại (Trade
Act.1974) cho quyền Tổng thống được
tăng, hoặc giảm, hoặc mở rộng những
quy định hạn chế nhập khẩu để
giải quyết khó khăn về thanh toán quốc
tế của đất nước.
Việc hạn chế nhập kháu v́ lư do này rất
nghiêm ngặt, cho áp dụng phụ thu nhập khẩu
(không quá 15% tri giá hàng hoá), hoặc áp dụng hạn
ngạch hoặc kết hợp cả hai biện
pháp này trong thời gian 150 ngày (trừ phi quốc
hội gia hạn thêm). Trong trường hợp thâm hụt
cán cân thanh toán nghiêm trọng, việc làm này c̣n
nhằm bảo vệ đồng dollar khỏi bị
phá giá lớn.
Luật này ra đời, kết hợp với
các luật lệ nói ở trên là nhằm bảo
vệ lợi ích của nền sản xuất,
kinh tế Mỹ. Là một nước nhập
dầu lửa lớn, Mỹ luôn bị tác động
bởi sự thất thường của giá
thị trường dầu lửa quốc tế.
Do vậy luật này nhằm tạo ra môi trường
pháp lư để Mỹ bảo vệ ngành sản
xuất trong nước được sử
dụng nhiều dầu lửa, tránh ĺnh trạng
thiếu hụt về cán cân thanh toán. Mặc dù
vẫn công bố tự do thương mại
không phân biệt đối xử nhưng thực
tế với từng loại nước và
khách hàng Mỹ vẫn có chế độ riêng.
Hàng rào phi quan thuế của Mỹ thể hiện
ở các quy chế sau đây:
8. Tiêu chuẩn chất lượng sản
phẩm :
Mỹ đă khai thác vận dụng những quy
chế của tổ chức GATT để
đưa ra quy định về tiêu chuẩn
chất lượng của ḿnh.
a. Hiệp định đa biên về những
trở ngại kỹ thuật đối với
trong khuôn khổ GATT :
Đây là hàng rào phi thuế quan được
quy định cụ thể ở Hiệp định
Tokyo - GATT 1973 - 1979 và có hiệu lực từ
1/1/1980. Hiệp định này được
gọi tắt là luật về tiêu chuẩn
(Standard Code), quy định rằng :
- Nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất
là các nước kư kết Hiệp định
không được cố t́nh hay hữu ư
định ra tiêu chuẩn quy định, kỹ
thuật, chế độ cấp giấy chứng
nhận mà chúng gây ra những trở ngại lớn
không cần thiết cho ngoại thương.
Luật này thừa nhận chủ quyền của
các nước xây dựng tiêu chuẩn, chế
độ cấp giấy chứng nhận, để
bảo vệ đời sống, sức khoẻ,
môi trường cho nước ḿnh, nhưng
những quy chế đó không được
gây trở ngại cho thương mại quốc
tế và càng hạn chế càng tốt.
- Chống phân biệt đối xử giữa
các nước thành viên, về tiêu chuẩn
cho sản phẩm nước ḿnh và sản
phẩm nhập khẩu, và điều kiện thủ
tục xin giấy chứng nhận. Tiêu chuẩn kỹ
thuật, điều kiện và mọi thay đổi
có liên quan, phải giải thích rơ, công bố thật
sớm và thật rơ ràng cụ thể.
b. Quy định của Mỹ :
Chương IV của Luật về các Hiệp
định thương mại 1979 của Mỹ
(Trade Agrement Act 1979) quy định việc áp dụng
các tiêu chuẩn và thủ tục xin cấp giấy
chứng nhận cho hàng nhập vào Mỹ
được căn cứ theo hiệp định
nói trên của GATT.
Tuy vậy những quy định đó
được Mỹ áp dụng làm phương
tiện để phân biệt đối xử với
các loại hàng nhập, thí dụ : hàng nhập
có thể bị kiểm tra, thử nghiệm xem
có phù hợp với tiêu chuẩn trong nước
hay không và tiến hành ở những điều
kiện khó khăn hơn so với điều kiện
áp dụng cho hàng trong nước. Chế
độ cấp giấy chứng nhận hàng phù
hợp tiêu chuẩn cũng được dùng
để hạn chế hàng nhập hoặc phân
biện đối xử. Thực chất đây
là hàng rào phi quan thuế để Mỹ bảo
hộ hợp lệ cho sản xuất trong
nước. |